gp-0188940106pm-1777507531.jpg
Nhân dân Sài Gòn ra đường đón quân giải phóng ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Trong chiến dịch bao vây, tấn công thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Quảng Đức sau đó, nhờ sự chi viện của hỏa lực Sư đoàn và mặt trận, chúng tôi đã làm chủ thị xã Gia Nghĩa chỉ sau 30 phút và bàn giao cho đơn vị bạn thuộc Quân khu 5. Tiếp đó, chúng tôi nhanh chóng chấn chỉnh đội hình, cấp tốc hành quân về chia cắt Đường 22 từ Tây Ninh đi thành phố Sài Gòn, với mục đích chia cắt đội hình địch. Gần đến Đường 22 lại nhận được lệnh của trên yêu cầu phải tập trung lực lượng để nhổ bằng được các căn cứ của địch trên Đường 22 để quân ta tiến về Sài Gòn. Khi ấy, tôi là Phó tham mưu trưởng Trung đoàn 148, Sư đoàn 316. Chỉ huy chúng tôi nhanh chóng bàn bạc, đưa ra quyết định.

Sau khi xác định được mục tiêu tấn công và được Tư lệnh Hoàng Minh Thảo (sau này là Thượng tướng, Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng) và Đại tá, Sư đoàn trưởng, Anh hùng LLVT nhân dân Đàm Văn Ngụy (sau này là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 1) cho phép đánh ban ngày, chúng tôi chọn đánh Bầu Nâu trước vì lực lượng địch không đông, cứ điểm nhỏ. Dưới sự chi viện bằng lựu pháo 122mm của Sư đoàn, chỉ trong khoảng 40 phút, chúng tôi đã làm chủ trận địa và bắt sống hàng chục tù binh, thu nhiều vũ khí giao cho bộ đội địa phương đi cùng quản lý.

Đánh xong Bầu Nâu, đơn vị chúng tôi đề nghị mặt trận chi viện pháo tầm xa và Sư đoàn chi viện hỏa lực để nhanh chóng vận động bao vây Bến Cát. Dù được bộ đội địa phương hỗ trợ dẫn đường và vận chuyển đạn dược, lương thực, vì thế, đạn súng cối, DKZ tương đối đủ theo cơ số chiến đấu, nhưng đây thực sự là thử thách lớn vì tại Bến Cát có khoảng vài trăm tên địch, cùng hỏa lực mạnh và hàng rào dây thép gai, công sự vững chắc. Sau khi chúng tôi chia thành 3 hướng đánh và phát hỏa tấn công, địch ngoan cố, chống trả rất quyết liệt. Suốt từ đêm đến mờ sáng, chúng tôi mới chiếm được một phần của căn cứ Bến Cát. Dẫu vậy, theo lệnh của cấp trên, chúng tôi kiên quyết nhổ căn cứ bằng mọi cách để mở đường cho quân ta, nhất là khí tài quân sự như pháo binh, xe tăng, pháo phòng không tiến về Sài Gòn.

gp-025340104pm-1777507568.jpg
Nhân dân Sài Gòn ra đường đón quân giải phóng ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Giành giật quyết liệt đến 8 giờ sáng, trong khi chúng tôi đang nổ súng tiếp tục tấn công thì thấy từ trong căn cứ Bến Cát có một tốp người không mang theo vũ khí kéo cờ trắng đi ra. Tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 6 ngừng nổ súng nhưng phải sẵn sàng, các lực lượng bí mật tại chỗ, còn tổ địch vận gọi loa yêu cầu ra hàng. Khi thấy 3-4 người tiếp tục kéo cờ trắng đi về phía tổ địch vận và yêu cầu xin gặp chỉ huy, tôi trả lời thay cho tổ địch vận: “Các ông về báo với chỉ huy, chúng tôi sẵn sàng gặp, với điều kiện các ông bỏ lại vũ khí, đưa cả đơn vị ra”. Họ đồng ý và khoảng 20 phút sau kéo ra khoảng vài trăm người, không có vũ khí. Thế là cuộc gặp ở rừng cao su diễn ra.

Lúc đầu, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 148, Anh hùng LLVT nhân dân Đỗ Văn Trì định cho tôi gặp quân địch, nhưng thấy tôi trẻ quá, anh lại quyết định ra gặp, còn tôi sẵn sàng cho bộ đội nổ súng nếu có biến. Nghe anh Trì tuyên bố là Anh hùng LLVT nhân dân, Trung đoàn trưởng thuộc Sư đoàn chủ lực của Bộ vừa chiến thắng ở Buôn Ma Thuột và Gia Nghĩa, chỉ huy phía bên kia xin đầu hàng và hứa nghiêm chỉnh chấp hành theo quy định của ta. Sau đó, được lệnh của cấp trên, đơn vị chúng tôi bàn giao tù binh và số vũ khí thu được cho bộ đội địa phương và tổ công tác của mặt trận, rồi chấn chỉnh đội hình tiếp tục phát triển về Sài Gòn.

Có thể nói, trong trận chiến từ ngày 10-3 đến 30-4-1975, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự chỉ huy mưu lược của cấp trên, sự anh dũng hy sinh của cán bộ, chiến sĩ đơn vị và nhờ vận dụng linh hoạt rất nhiều hình thức chiến thuật, chúng tôi đã kiên cường chiến đấu để chiến thắng và vinh dự là những người có mặt ở Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975.