Để được hưởng dịch vụ nước sạch đến tận nhà, mỗi hộ gia đình phải đóng số tiền “ký quỹ” 2 triệu đồng. Trong khi, nhà máy nước chưa đủ điều kiện cấp nước sạch nhưng vẫn triển khai rầm rộ đến hàng nghìn hộ dân thuộc 14 xã trên địa bàn huyện Đô Lương. 
 
Dự án không qua đấu thầu, tự ban hành giá, thu tiền “ký quỹ”
 
Dự án Nhà máy nước sạch Hòa Sơn được xây dựng tại xã Hòa Sơn, huyện Đô Lương có công suất 10.000 m3/ngày, do Công ty CP Tư vấn đầu tư và công nghệ môi trường HQ (trụ sở tại Hà Nội) đầu tư, tổng mức hơn 180 tỉ đồng. Trước đó, ngày 27/6/2018, UBND tỉnh Nghệ An đã ký Quyết định số 2608/QĐ.UBND chấp thuận chủ trương đầu tư dự án, với công suất 10.000 m3/ngày đêm, sử dụng công nghệ Nhật Bản do nhà thầu Kobelco cung cấp, đảm bảo chất lượng nước đầu ra theo quy chuẩn của Bộ Y tế, cung cấp nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt cho nhân dân 14 xă (khoảng 2.500 hộ dân) thuộc huyện Đô Lương. Giai đoạn 1 của dự án dự kiến hoàn thành vào quý I/2020 với công suất cấp nước 5.000 m3 và đưa vào hoạt động.

Giai đoạn 2 là quý I/2024 hoàn thành xây dựng nhà máy với tổng công suất cấp nước 10.000 m3. Ngày 31/8/2018, dự án được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định 3905, được Sở Xây dựng Nghệ An cấp giấy phép xây dựng vào ngày 29/5/2019 và chấp thuận nghiệm thu hoàn thành giai đoạn 1 vào ngày 17/9/2020 tại Văn bản số 507/SXD-GĐCL.

Theo báo cáo của UBND huyện Đô Lương, đến nay nhà máy đã triển khai đường ống cấp nước đến 7 xã, các xã còn lại đang thi công. Ngoài ra, huyện cũng đang có công văn đề xuất nhà đầu tư bổ sung cấp nước cho thị trấn, xã Lưu Sơn, Bài Sơn, Xuân Sơn và Sư đoàn 324. Theo bà Lê Thị D. trú tại xóm 5, xã Quang Sơn, để được sử dụng nước sạch của Nhà máy nước Hòa Sơn, gia đình bà cũng như tất cả các hộ dân khác, đều phải ký vào cái gọi là “đơn đăng ký sử dụng nước”, được soạn sẵn theo mẫu, có xác nhận của chính quyền địa phương. Tiếp đó, mỗi hộ dân phải ký vào biên bản thỏa thuận việc đấu nối và lắp đặt đồng hồ với nhà máy.

Theo nội dung biên bản này, người dân phải chấp nhận mức giá mà phía nhà máy tự đưa ra là 9.500 đồng/m3 đối với giá nước sinh hoạt, 11.400 đồng/m3 đối với cơ quan hành chính sự nghiệp, 14.200 đồng/m3 đối với kinh doanh sản xuất (bán lẻ) và mức 19.000 đồng/m3 đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ. Giá trên chưa bao gồm 5% thuế VAT và 10% phí bảo vệ môi trường!
 
Theo ý kiến người dân và qua so sánh với giá nước hiện nay được UBND tỉnh phê duyệt đối với các nhà máy đang cung cấp dịch vụ này trên địa bàn Nghệ An, thì mức giá này là quá cao, đặc biệt là so với mức thu nhập bình quân của người dân trên địa bàn huyện Đô Lương. Chưa dừng lại ở đó, cũng theo biên bản thỏa thuận,  người dân phải cam kết sử dụng nước tối thiểu là 3 năm, sử dụng tiền nước tối thiểu 50.000 đồng/tháng; nếu sử dụng tiền nước dưới 50.000 đồng mỗi tháng thì người dân phải trả cho nhà máy nước phí duy trì áp lực, đường ống với mức phí tối thiểu là 50.000 đồng. Ngoài ra, mỗi hộ dân muốn sử dụng nước sạch do Nhà máy nước Hòa Sơn cung ứng, phải nộp số tiền ký quỹ cam kết sử dụng là 2.000.000 đồng, số tiền này được trừ dần vào tiền sử dụng nước hằng tháng của khách hàng. Chưa bàn đến việc thu tiền này là đúng hay sai, làm một phép tính đơn giản nếu tất cả các hộ dân trên địa bàn huyện Đô Lương sử dụng nước từ nhà máy theo quyết định được phê duyệt, thì ngay khi đưa vào hoạt động, phía nhà máy đã nghiễm nhiên có trong tay số tiền 5 tỉ đồng từ việc thu ký quỹ này. 
 
Trở lại vấn đề Nhà máy nước Hòa Sơn, người dân phản ánh thời gian gần đây mặc dù cho rằng chỉ mới chạy thử nghiệm, chưa thu tiền của dân nhưng người của nhà máy đã đến tận nhà dân để ghi chỉ số đồng hồ nước. Câu hỏi đặt ra là, cơ sở nào để Công ty CP Tư vấn và Công nghệ môi trường HQ tự đưa ra mức giá nước như vậy, khi đơn vị này chưa được UBND tỉnh Nghệ An thẩm định, ban hành giá nước. Theo quy định tại Quyết định số 10/2019/QĐ-UBND tỉnh Nghệ An ngày 29/3/2019, về quy định giá tiêu thụ nước sạch khu vực nông thôn của các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung trên địa bàn tỉnh, thì UBND tỉnh Nghệ An chỉ quy định mức giá tiêu thụ nước sạch từ 2.500 đồng/m3 - 7.000 đồng/m3, mức giá này đã bao gồm thuế VAT. Chi phí nước thô đầu vào đối với các công trình nước sạch tại một số địa phương như Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc… được áp dụng đối với các công trình sử dụng nguồn nước thô từ các công trình thủy lợi là 900 đồng/m3. Do đó, việc Nhà máy nước Hòa Sơn tự áp giá nước cao ngất ngưởng trên địa bàn huyện Đô Lương, đã khiến không ít đơn vị đang cấp nước trên địa bàn thảng thốt, giật mình.  
 

 
Vai trò của chính quyền, sở, ban, ngành ở đâu?
 
Ngoài ra, việc thu “ký quỹ” mỗi hộ dân 2.000.000 đồng của đơn vị này cũng không đúng với quy định của pháp luật hiện hành. Đó là chưa nói đến việc, theo quy định của Chính phủ tại Nghị định 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch, thì việc đầu tư xây dựng nhà máy nước phải thực hiện qua đấu thầu. Cụ thể, tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 29 của Nghị định quy định về việc đầu tư phát triển cấp nước, Nghị định 117 nêu rõ: “Đối với địa bàn đã có tổ chức, cá nhân đang thực hiện dịch vụ cấp nước thì tổ chức, cá nhân đó được chỉ định là đơn vị cấp nước thực hiện dịch vụ cấp nước trên địa bàn. Đối với địa bàn chưa có đơn vị cấp nước thực hiện dịch vụ cấp nước, việc lựa chọn đơn vị cấp nước để đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước và kinh doanh nước sạch trên địa bàn được tiến hành theo các quy định của pháp luật về đấu thầu và điều kiện cụ thể của từng địa phương”. Vấn đề này, chính quyền địa phương sở tại, cụ thể là UBND huyện Đô Lương và các sở, ban, ngành của UBND tỉnh, dường như đã ưu ái, chỉ định cho Công ty CP Tư vấn và Công nghệ môi trường HQ được xây dựng nhà máy, được tự ý ban hành các bậc thang giá nước và tự ý thu tiền “ký quỹ” trong nhân dân. 
 
Một vấn đề khác, là dự án Nhà máy nước sạch Hòa Sơn chỉ mới hoàn thành giai đoạn 1, được Sở Xây dựng Nghệ An nghiệm thu hạ tầng xây dựng. Chủ đầu tư cũng chỉ mới đưa mẫu nước đến thử nghiệm tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở Y tế Nghệ An, nhưng đã cấp nước đến tận hộ gia đình. Trong khi đó, các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa có ý kiến về vấn đề này. Bà Lê Thị Lý, Phó Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Đô Lương cho biết, sau khi có ý kiến phản hồi từ dư luận về những dấu hiệu bất minh trong hoạt động cấp nước sạch tại Nhà máy nước Hòa Sơn, huyện Đô Lương đã có buổi làm việc với chủ đầu tư về các vấn đề liên quan. Theo bà Lý, đại diện Công ty CP Tư vấn và Công nghệ môi trường HQ thừa nhận có việc thu tiền “ký quỹ” 2.000.000 đồng và bắt người dân ký cam kết sử dụng tối thiểu chi phí 50.000 đồng mỗi tháng. Về nội dung này, huyện Đô Lương đã yêu cầu phía nhà máy ngừng thu số tiền ký quỹ.
 
Đối với giá nước ban hành, theo giải trình từ phía nhà đầu tư, thì giá bán nước sạch hiện tại là giá tạm tính dựa trên báo cáo nghiên cứu khả thi. Ngay sau khi hoàn thành dự án, nhà máy sẽ tiến hành kiểm toán xác định giá trị dự án, trên cơ sở đó trình UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt phương án giá. Bà Lý, cũng như chủ tịch UBND tại một số xã mà dự án đang cấp nước, khi được hỏi về tổng số hộ dân đã ký hợp đồng lắp đặt, số lượng đồng hồ nước đã đến tận hộ dân và tổng số người đã ký nộp số tiền ký quỹ 2.000.000 đồng, đều không nắm được số lượng cụ thể vì cho rằng phía nhà máy tự làm với người dân, không thông qua địa phương cũng như không báo cáo số lượng cho chính quyền để quản lý.  
 
Liên quan đến vấn đề này, ngày 23/9/2020, Công ty CP Tư vấn và Công nghệ môi trường HQ mới có Văn bản số 90/2020/CV-HQ báo cáo tiến độ Nhà máy nước Hòa Sơn, gửi UBND tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở đó, ngày 30/9/2020, UBND tỉnh ban hành Văn bản số 6706/UBND-CN giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Sở: Tài chính, Y tế, Tài nguyên Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan có liên quan, rà soát quy định hiện hành, hướng dẫn Công ty CP Tư vấn và Công nghệ môi trường HQ và UBND huyện Đô Lương thực hiện các thủ tục để cấp nước sinh hoạt đảm bảo đúng quy định. 
 
Như vậy, có thể thấy, một dự án hàng trăm tỉ đồng được đầu tư trên địa bàn, nhưng huyện Đô Lương và các ban, ngành liên quan, hoặc là quá ưu ái, phớt lờ các quy định hiện hành, hoặc buông lỏng quản lý để chủ đầu tư tự quyết, thực hiện nhiều vấn đề thiếu minh bạch, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của hàng nghìn hộ dân trên địa bàn. Vấn đề này, cần làm rõ trách nhiệm cụ thể, tránh tạo tiền lệ xấu đối với môi trường đầu tư hiện nay./.