Chuyện kể rằng: Khi con trai đầu của Lạc Long Quân lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương đã được 100 con chim phượng hoàng bay đi khắp nước Nam Việt giúp tìm đất định đô. Đàn chim phượng hoàng từ phương Bắc bay đến miền Trung thì bắt gặp một vùng đất giàu đẹp, phong cảnh hữu tình, địa hình núi non biển trời hòa quyện, có khí thiêng của đất trời. Đó là làng Phú Mỹ thuộc xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ngày nay. Và chim phượng hoàng đã đậu xuống nơi đây.
 
Không phải ngẫu nhiên vùng đất này được đặt tên là Phú Mỹ có nghĩa là giàu và đẹp. Đứng từ xa chúng ta thấy địa thế của làng Phú Mỹ giống như một con rồng uốn khúc, đầu là núi Cửa Gan, đuôi kéo dài đến chân núi Trụ Hải. Đất đai màu mỡ, nguồn nước ngầm dồi dào. Phía Bắc làng có dãy núi thất tinh (7 ngọn núi như 7 vì sao) thuộc làng Lam Cầu, xã Quỳnh Thạch. Tiếp đó là Di chỉ văn hóa Quỳnh Văn, dấu tích của người Việt cổ. Phía Tây xã là những ngọn núi nối tiếp nhau chạy tới chân dãy Trường Sơn.

Phía Nam là một dải đồng bằng giáp với xã Quỳnh Mỹ. Phía Đông giáp thị trấn Cầu Giát, lỵ sở huyện Quỳnh Lưu và các xã Quỳnh Hậu, Quỳnh Hồng (xã có Di tích người Việt cổ ở Trại Ổi). Bấy giờ Phú Mỹ sau lưng là rừng cây xanh tốt rậm rạp, trước làng là cánh đồng bằng phẳng, tiếp đó là biển Đông mênh mông. Từ xa xưa vùng đồng bằng Quỳnh Lưu nói chung, làng Phú Mỹ nói riêng là một vịnh biển nông, kín gió lặng sóng. Có Cửa Gan là một cửa biển ăn sâu vào đất liền. Nơi đây đã thành tụ điểm của thuyền bè đi lại giao thương. Xa xa cách Phú Mỹ khoảng hai cây số về phía Đông, giữa biển nước mênh mông nổi lên 6 hòn lèn là Nhân Sơn, Long Sơn, Chãi Đót, Chãi Thánh, Chãi Ông Đồ, Độc Trục của xã Quỳnh Hồng và xa hơn nữa là lèn Thiên Mã (Mục Sơn) thuộc xã Quỳnh Bá; lèn Bút của xã An Hòa. Những hòn lèn sừng sững, nhấp nhô trên biển tạo cho vùng này một vẻ đẹp nên thơ, kỳ vĩ.

Rồi biển lùi dần để lại những cồn, đồi và đầm lầy. Con người cứ tiến dần theo biển, lập làng tạo nên điểm dân cư của vùng đồng bằng Quỳnh Lưu. Những núi lèn sừng sững điểm xuyết cho vẻ đẹp của các làng quê trù phú nơi đây đã tạo nên cảm hứng của các thi nhân, mặc khách như Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác, Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Thúc Hạp, Bùi Huy Bích… đề thơ và nhiều bài thơ được lưu truyền cho hậu thế. Nhiều tác giả thơ ngày nay như Phan Văn Từ, Tú Tâm, Hồ Hữu Nại, Minh Hoàng cũng đã có những bài thơ với nỗi niềm khác nhau về những số phận của những hòn lèn đó. Xin được trích một bài thơ của ông Đoàn Nguyễn Tuấn, Lại bộ tả thị Lang, tước Hải phú hầu triều Tây Sơn:
 
Túc Giát Đông vọng kiến

Tây giáng quần phong tự cẩm vân
 
Đỉnh nhiên nhất Mã độc tiên quần
 
Lăng tằng thạch cốt ma nan lận
 
Biến ảo vân phu sắc bất phân
 
Bá Nhạc nhân trung phi di hội
 
Vương Lương bí thủ phỉ năng tuần
 
Quỳnh Lưu kim cổ đa tài tuấn
 
Chỉ thị phi cung, kỹ mã nhân.
 
(Thiên Mã Sơn ngẫu tác)
 
Dịch thơ
 
Núi phương Tây thoải gấm mây đây
 
Thiên Mã chon von vượt hẳn bầy
 
Xương đá gồ ghề mài khó nhẵn
 
Da mây biến ảo sắc gì đây?
 
Mắt thần Bá Nhạc còn chưa biết
 
Cương thánh Vương Lương chẳng dễ xoay
 
Kim cổ Quỳnh Lưu nhiều tuấn kiệt
 
Toàn người cưỡi ngựa bắn cung hay
 
Nguyễn Tuấn Lương (dịch)
 
Nhìn toàn cảnh làng Phú Mỹ bấy giờ ta có thể hình dung một miền quê có rừng, có đồng ruộng, có cửa lạch và có biển; biển lại nông, kín gió, lặng sóng rất thuận lợi cho cư dân hội tụ lập nghiệp. Người Việt cổ từ Quỳnh Văn sang, từ trại Ổi, Quỳnh Hồng lên đã lập lên làng Phú Mỹ. Cư dân làm nghề săn bắt hái lượm, kết hợp sản xuất nông nghiệp và khai thác hải sản. Rất nhiều cồn điệp còn lưu lại xung quanh làng Phú Mỹ đã khẳng định điều đó. Nhân dân làng Phú Mỹ trồng rất nhiều cây thị và đào các giếng nước nhỏ để sinh hoạt.
 
Lại nói về đàn chim phượng khi bay đến làng Phú Mỹ vào một ngày mùa thu đẹp trời, các cây thị đang mùa chín rộ thơm lừng một vùng, mỗi quả thị như một cái đèn lồng nhỏ xíu treo trên cành cây. Đàn chim phượng bay một vòng quanh làng và thấy bên cạnh một cây thị là một giếng nước. Thế là cả đàn chim hạ cánh xuống giếng nước để tắm. Và kỳ lạ thay cả làng Phú Mỹ có đủ 100 giếng nước cho đàn phượng hoàng tắm.

Đàn chim vùng vẫy khoái chí. Tắm xong cả đàn bay lên cứ mỗi con đậu một cây thị để phơi lông, rỉa cánh. Khi đàn chim đã đậu hết lên, các cây thị và đồng loạt kêu lên một tiếng thì coi như đã hoàn thành việc định đất kinh đô. Nhân dân làng Phú Mỹ ngơ ngác đứng xem một hiện tượng kỳ lạ, chưa bao giờ thấy. Nhưng tiếc thay làng chỉ có 99 cây thị mà đàn chim có 100 con nên một con chim không có chỗ đậu và vỗ cánh bay đi. Thế là cả đàn chim phượng hoàng bay theo, tiếp tục cuộc hành trình mới. Cho nên đất Phú Mỹ không thành kinh đô. Truyền thuyết là truyền thuyết, cho đến nay chưa ai lý giải được là tại sao làng Phú Mỹ hình thế, phong cảnh như vậy, còn thiếu yếu tố gì nữa mà không được đàn chim phượng hoàng chọn làm kinh đô nước Văn Lang.
 
Trải qua bao biến cải của thiên nhiên và thăng trầm dâu bể; ngày nay biển Đông đã lùi xa cách làng Phú Mỹ hàng chục ki lô mét; một số lèn đá to đẹp của xã Quỳnh Hồng đã đi vào kí ức. Dân số đông, nhu cầu đời sống mọi mặt ngày càng tăng, đường làng mở rộng, uốn thẳng; mặt khác để thuận tiện cho việc sử dụng, sinh hoạt hàng ngày, từng gia đình đã đào giếng cá nhân để dùng, nên các giếng cổ được san lấp dần. Những cây thị phần bị chết, phần bị chặt hạ để thay bằng loại cây ăn quả kinh tế hơn.

Hiện nay làng Phú Mỹ vẫn còn lại hai cây thị từ ngày xưa có đường kính 2m, cao 10m, tán tỏa rộng diện tích tới 200 m2. Cả làng còn lại ba giếng nước cổ xưa. Giếng sâu 3m, đường kính 1,2m. Đáy giếng lát một tấm gỗ; thành giếng đoạn dưới là một hình trụ tròn bằng gỗ đường kính 1m đến 1,2m, chiều cao 1m đến 1,2m. Đây là loại gỗ quí, ngâm dưới nước đã hàng ngàn năm vẫn tươi nguyên. Thành giếng đoạn trên xây bằng đá, hình vuông, cao 1,8m đến 2m. Theo các cụ cao niên ở đây kể lại thì 100 giếng được đào cắt ngang trục đường chính của làng, mỗi hàng có 20 giếng và có 5 hàng, mỗi hàng cách nhau 120m.
 
Về thăm làng Phú Mỹ hôm nay ta vẫn còn cảm nhận được dáng dấp của làng quê Việt xưa với ngôi đền cổ, giếng cổ, nhiều cây cổ thụ và nhiều ngôi nhà cổ có từ hàng trăm năm trước.