lang-hong-quang-1-1775656208.webp
Nhà thơ Lăng Hồng Quang.

Dáng người thấp đậm như cây lúa Yên Thành. Đầu ông bồng bềnh mây trắng trên núi Tù Và. Nhìn cái đầu huyền không ấy làm tôi nhớ câu thơ của Trần Lê Văn khi viết về ông bác họ của tôi – nhà thơ Xuân Diệu: “Lắc lắc ra thơ óng ánh tình”. Tôi là tín đồ của chủ nghĩa hiện sinh, lại gặp lời khuyên về tỉnh thức của Thích Nhất Hạnh nên muốn mọi thứ thật chậm rãi, để nhận ra những giây phút cùng Lăng Hồng Quang.

Cứ thế, độ thời gian ấy, tôi và ông được gặp nhau nhiều lần. Có dịp tôi ở Vinh, ông đang ở Yên Thành, vậy mà lên xế hộp vào ngay Vinh, chỉ để ăn với nhau bữa cơm cà mói, nhút mít xứ Nghệ. Dạo ấy, Lăng Hồng Quang vừa tròn bát thập. Tôi tròn xoe mắt với phong cách trẻ trung, nói và làm “phát một” của Lăng Hồng Quang. Ông rất trọng lời hứa.

Lăng Hồng Quang nay đã chẵn 82. Cách mạng Tháng Tám thành công trên đất xứ Nghệ thì ông mới qua “thôi nôi”. Lớn lên, năm 1962, đủ 18 thì cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt. Đế quốc Mỹ bắt đầu thực hiện “Chiến tranh đặc biệt”, với kế hoạch Staley–Taylor (1961–1965), lính Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam nước ta. Nghe theo tiếng gọi của đất nước, người thanh niên Lăng Hồng Quang, cất nơm, oi, giỏ… thường ngày vẫn ra đồng bắt tôm, cá, lên đường nhập ngũ.

Lúc ông lên đường vào Nam chiến đấu, tôi cũng vừa qua tuổi “thôi nôi”, ngủ trong võng, nghe “Mẹ hát lời cây lúa để ru con” (thơ Thạch Quỳ).

Kể từ đó cho đến lúc nghỉ hưu, Lăng Hồng Quang trải qua nhiều cương vị công tác, đủ các gạch đầu dòng “nguyên là” trong trích yếu, hoặc các nghi lễ mà người ta cần “trọng thị”. Với riêng tôi, chỉ thích gọi ông “nguyên là” Chủ nhiệm Tao đàn Mùa Xuân – tên một câu lạc bộ văn chương trên đất Nghệ, mà Lăng Hồng Quang có thời gian “dấn thân” 10 năm. Đó là hành trình vì cái đẹp, vì phẩm giá của thi ca, mang đến cho con người cảm xúc tích cực.

Nhờ hoạt động của câu lạc bộ văn chương này mà tôi biết đến Chủ nhiệm – nhà thơ Lăng Hồng Quang. Ngọn cờ Ngày Thơ Việt Nam năm 2017, nhân Nguyên tiêu năm Đinh Dậu do Tao đàn Mùa Xuân Nghệ An tổ chức, với chủ đề “Đồng hành và sáng tạo”, được trao vào tay Tao đàn Mùa Xuân và “nhạc trưởng” lĩnh xướng chính là Lăng Hồng Quang.

Từ Hà Nội vào có nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Đoàn Xuân Hòa, Ngô Đức Hành và Đội trưởng đội văn nghệ “Tiếng hát át tiếng bom” thời tuyến lửa Quảng Bình – nhà thơ Hoàng Xuân Ninh. Văn nghệ sĩ sống và sáng tác trên đất Nghệ An gần như đủ mặt; từ nhà thơ Thạch Quỳ, Nguyễn Thị Vân Anh, Trần Thu Hà, Tùng Bách, Nguyễn Văn Hùng… cho đến các anh, các chị thuộc các lĩnh vực văn học nghệ thuật khác như sân khấu, mỹ thuật…

Điểm mặt các “anh tài” để thấy tài tổ chức, sức hút, sự lan tỏa của thi ca trên đất “đồ Nghệ”, đất khoa bảng – nơi lắng hồn thiêng sông núi. Lăng Hồng Quang trên đầu đội chiếc mũ bê-rê, tíu ta tíu tít.

Chứng kiến, biết được tài quy tụ, tổ chức kịch bản và đạo diễn chương trình của Chủ nhiệm Tao đàn. Ngó thì biết, ông nhẹ “vía”, “tâm lành”. Nói như Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tâm con người tạo ra mọi thứ. Tôi nhận biết bao thứ trị liệu tâm hồn từ trời xanh, mây trắng, con người hiền hòa trong khu sinh thái Diễn Lâm. Tôi nhận được ở Lăng Hồng Quang một nguồn năng lượng từ tâm, thanh tao. Từ đó đến giờ, tôi hay gặp ông…

2. Ngoài Tết Bính Ngọ, Lăng Hồng Quang ra Hà Nội thì tôi lại “xuôi” về Nghệ. Sau khi trở lại Hà Nội, thì tôi nhận được tập thơ “Dưới bóng đa làng” – tập thơ chọn của ông. Tập thơ dày dặn, có 141 bài thơ, tuyển từ các tập Lăng Hồng Quang đã xuất bản và phần “Cổ phần bầu bạn” – tức phụ lục – là những “khúc tri âm” của nhiều nhà thơ, người yêu thơ đối với tác phẩm của ông.

Thơ Lăng Hồng Quang dễ cảm, dễ “đi từ mình đến người”, do vậy bạn bè viết cảm luận cùng tác giả cũng là điều dễ hiểu, hay và đẹp như cùng hẹn trước.

duoi-bong-da-lang-e1773643603832-1775656245.webp
Bìa 1 tập thơ “Dưới bóng đa làng” của nhà thơ Lăng Hồng Quang.

Mở ra tập thơ, tôi gặp bài Cây đa làng. Hóa ra, cố thổ của ông – làng Trụ Thạch, xã Lý Thành, huyện Yên Thành (cũ), nay là xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An – như nhiều làng quê phía Bắc có cây đa làng. Không biết ai trồng, nhiều thế hệ lớn lên đã thấy cây đa.

“Tôi lớn lên đã thấy cây đa già
Ngỡ cây đa sinh ra làng Trụ Thạch
Cây đa làng tôi, cây đa cổ tích
Chở che năm tháng đời người”.
(Cây đa làng)

Bài thơ này được nhà thơ Lăng Hồng Quang sáng tác năm 1989, sau ngày đất nước đổi mới không lâu.

Đó là những năm gian khó.

“Tán cây đa giăng thành một vòm trời
Vòm trời cùng tôi qua bao đèo bao suối
Vòm trời mãi xanh qua những ngày lửa khói
Qua những ngày bão giông của quê hương”.

Đọc bài thơ, tôi mường tượng ra một lần ông trở về quê hương, đi qua, ông dừng lại cùng cây đa chiêm nghiệm.

“Qua mọi phong ba tôi về trước đa làng
Nghe tiếng của đất trời trầm mặc
Câu thơ nâng niu lời xào xạc
Gió ngàn năm ở mãi với đất này”.

Cây đa đối với làng vừa là bóng mát, vừa là vòm trời, vừa là chứng nhân thời cuộc. Biết bao suy tư, ưu tư của Lăng Hồng Quang đổ vào nhân thế.

Cây đa làng Trụ Thạch này còn là hình tượng nghệ thuật trong nhiều bài thơ khác: “Đa làng thở mạnh/ Nhắc lời ngàn năm” (Đêm về làng); “Nắng cháy da/ Mưa trôi vèo lừ đó/ Giông bão giật rung gốc cây đa vẫn bình tâm” (Dân quê tôi).

Đối với nông thôn Việt Nam nói chung, làng Trụ Thạch của nhà thơ Lăng Hồng Quang nói riêng, cây đa không chỉ đơn thuần là một loài cây xanh mát mà còn là nơi lưu giữ những kỷ niệm của bao thế hệ. Dưới gốc đa là chỗ nghỉ chân, trò chuyện của người nông dân sau những giờ làm việc đồng áng mệt mỏi; trẻ con thì tụ tập chơi đùa; cụ già thì ngồi hóng gió, kể chuyện làng quê… Trong văn hóa tín ngưỡng, cây đa là nơi ngự trị của các vị thần, thổ địa, nên thường được người dân lập bàn thờ, thắp hương cầu bình an dưới gốc cây. Lăng Hồng Quang có quyền tự hào về cây đa làng mình, được ám ảnh bởi cây đa làng mình.

Lăng Hồng Quang là người hậu tình, lòng luôn nặng trĩu. Dưới bóng đa làng hiển lộ bản đồ tâm hồn ông, biểu cảm nhiều cung bậc. Bây giờ dẫu đã có chắt gọi bằng cụ, nhưng ông vẫn luôn nằm lòng công ơn sinh thành, dưỡng dục của bố mẹ.

“Cha như cây lim rừng làm cột
Mẹ tựa lưng sớm chiều”.

“Cha là con trâu cô đơn
Mẹ tôi thường nói thế”.
(Dáng cha)

“Mẹ đi
Vách đá, gai rừng nhòa nước mắt
Chân đất tự tìm lối bước qua thây đói ngang đường
Lầm lũi lao về phía rừng
Lòng như lửa đốt
Ngỡ ôm con ngồi đỉnh ngọn tre làng
Từng khắc, từng khắc mong manh
Niệm tâm điều ước
Dẫu đắng, dẫu cay đàn con lắt lẻo qua ngày…”
(Mùa nhớ)

Đọc thơ Lăng Hồng Quang, thêm một lần tỉnh thức: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” (ca dao). Phải chăng vì thế đạo Hiếu trở thành một thành tố của văn hóa dân tộc? Chắc chắn là thế rồi.

lang-hong-quang-1775656282.webp
Nhà thơ Lăng Hồng Quang (bên phải) và nhà thơ Ngô Đức Hành, tác giả bài viết.

Ngoài Mùa nhớ, Lăng Hồng Quang còn có Ngày giỗ mẹ, từ tâm thức vọng lên khắc khoải. Dẫu người mẹ trong thơ là thi ảnh nghệ thuật, nhưng xin nhớ rằng đặc điểm của thơ là sự thổ lộ tình cảm mạnh mẽ đã được ý thức; muốn hiểu thơ phải suy đoán được tình huống nảy sinh thơ.

“Gậy mòn cổng
Ngóng con khắp chiến trường
Những bóng nhỏ chập chờn giữa hai làn đạn
Phía nào bắn như cũng nhằm tim mẹ
Giấc không yên
Mẹ khấn tổ tiên”.
(Ngày giỗ mẹ)

Vì đất nước, những người mẹ Việt Nam dâng những đứa con rứt ruột đẻ ra để nhận về “tuôn nước mắt quanh năm”, mòn mỏi chờ đợi, mòn mỏi hy vọng.

Đọc thơ Lăng Hồng Quang về người cha, người mẹ, tôi nhớ câu của nhà văn Ireland James Joyce: “Bạn có thể không chắc chắn về bất cứ thứ gì trong thế giới hỗn độn và đầy lừa lọc này, trừ tình yêu của mẹ”.

Lăng Hồng Quang còn làm thơ về đồng đội, về thầy giáo, những người bạn tri âm, tri kỷ trong cuộc đời. Thơ ông có phẩm giá nhân nghĩa, thủy chung.

“Lớp chúng con chân in dấu trăm miền
Ơn nặng quê hương, tình thầy da diết
Giữa chiến trường đêm Ba mươi Tết
Con nhớ thầy, khao khát dịp về thăm”.
(Thăm thầy giáo cũ)

3. Dưới bóng đa làng là tập thơ đa đề tài, đa thi pháp, có thơ trữ tình, có thơ thế sự, có thơ vần điệu, có thơ văn xuôi. Tất cả làm nên một Lăng Hồng Quang vừa đắm say, vừa lắm ưu tư. Ông đi nhiều nơi, đến nhiều vùng của đất nước, nhưng những bài thơ về xứ Nghệ như Quê tôi miền Trung, Kim Liên tháng Năm, Trước đỉnh Pù Quai, Sông Hiếu, Đêm Pù Mát, Cổ tích Truông Bồn… trĩu nặng nghĩa tình cố thổ. Không có ai bứng được tâm hồn Lăng Hồng Quang ra khỏi vùng trời ký ức xứ Nghệ.

Từng là Chủ nhiệm Tao đàn Mùa Xuân, hằng năm Lăng Hồng Quang thường tổ chức các đoàn văn nghệ sĩ giao lưu với các đồn biên phòng ở miền Tây Nghệ An. Những chuyến đi thực tế không chỉ tạo nên sự gắn bó quân dân, thêm thi hứng sáng tạo cho anh chị em mà bản thân nhà thơ Lăng Hồng Quang cũng có nhiều sáng tác. Mảng đề tài hậu chiến, đề tài biển đảo trong thơ ông cho thấy trách nhiệm xã hội của một ngòi bút ở độ tuổi chiêm nghiệm giàu triết luận.

lang-hong-quang-ngo-duc-tien-nguyen-dang-che-1775656314.webp
Từ phải sang, các nhà thơ: Tú Tâm, Lăng Hồng Quang, Nguyễn Đăng Chế, Ngô Đức Tiến.

Sau khi rời quân ngũ, Lăng Hồng Quang trở lại với giảng đường đại học. Chuyên ngành ông chọn gắn bó với người nông dân, đó là thủy lợi. Mảng thơ ông viết về làng như: Đêm về làng, Miền cỏ nhớ, Lối em về, Nỗi niềm cây lúa, Cánh rừng… đầy day dứt, sẻ chia.

“Lúa vừa trổ khoe màu mưa đã trút trắng đồng. Cha ngồi như pho tượng, mẹ nước mắt lưng tròng. Ai về bạn với nhà nông. Nắng sương hạt thóc đục trong mấy mùa”. (Nỗi niềm cây lúa). Đây là bài thơ văn xuôi của Lăng Hồng Quang. Đọc bài thơ, ký ức sau lũy tre làng sống dậy, lam lũ như vừa mới xảy ra hôm qua.

“Miền Trung yêu ơi
Tổ quốc giao ta làm tâm tia chớp
Thì bằng lòng
Biết để chở che nhau
Thì cầm lòng đứng dậy tựa lưng nhau”.

(Quê tôi miền Trung)

Thơ Lăng Hồng Quang là tiếng thơ từ đời sống, nhưng đời sống có Phật tính và chất sử thi, đáng trân trọng.

Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo với Lăng Hồng Quang, Nghệ nhân Ưu tú Cao Xuân Thưởng là chỗ tri âm. Mỗi lần có dịp về quê hương Diễn Hoa, huyện Diễn Châu (cũ), nay là xã Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, tôi đều thấy ba “ngự lâm” tri âm đàm đạo. Tôi gặp nhà thơ Lăng Hồng Quang, nghệ nhân – nhà thơ Cao Xuân Thưởng cũng nhờ duyên từ Nguyễn Trọng Tạo.

Tôi nhớ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo từng có bài thơ tứ tuyệt tặng Lăng Hồng Quang:

“Trăng bay không tuổi
Mơ Quang tóc cằm
Bờ Lăng nước trẻ
Tim Hồng ngàn năm”.

(Tặng Lăng Hồng Quang)

Các “ông đồ Nghệ” nói chung và Nguyễn Trọng Tạo nói riêng luôn biến hóa ở thú “chơi chữ”.

Trong tiếng Việt, “quang” có nghĩa là “sáng” hoặc “sáng sủa”, có lúc là danh từ, có lúc là tính từ – tùy ngữ cảnh của ký hiệu. Nhưng soi chiếu vào tâm hồn Lăng Hồng Quang, nhận ra trái tim hồng, tâm hồn tươi trẻ, đủ mẫn cảm từ những xúc tu tâm hồn để “nghe tiếng đất trời trầm mặc”, tiếp tục sáng tạo thi ca.